Chu kỳ kinh tế là gì?Chu kỳ kinh tế, hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là khái niệm...
Chu kỳ kinh tế, hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là khái niệm dùng để chỉ sự biến động của GDP thực tế. Sự biến động này tạo thành một chu kỳ gồm các giai đoạn: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. GDP được viết tắt từ Gross Domestic Product, có nghĩa là tổng sản phẩm quốc nội được sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định. GDP thực tế là tổng sản phẩm quốc nội đã qua điều chỉnh lạm phát.

Một chu kỳ diễn ra theo trình tự 3 pha: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.
(Nguồn: Sưu tầm)
Thông thường người ta thường chia ra thành 4 giai đoạn:
Theo nhà sử học và kinh tế chính trị Sismondi, đây là kết quả tự nhiên của các yếu tố thị trường. Sản xuất dư thừa và tiêu dùng thấp, hay còn có thể được hiểu đơn giản hơn là cung lớn hơn cầu, được cho là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế. Cụ thể, nguyên nhân dẫn đến việc này diễn ra theo quy trình sau:

(Nguồn: Sưu tầm)
Ảnh hưởng của chu kỳ này trong kinh tế dễ nhận thấy nhất ở pha suy thoái. Khi xảy ra suy thoái, các hoạt động kinh tế bị đình trệ rõ rệt, sản lượng sản xuất suy giảm. Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp vào giai đoạn suy thoái kinh tế cũng cao hơn so với bình thường. Có thể nói, pha suy thoái mang đến các ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế.
Ngược lại, pha phục hồi mang đến các ảnh hưởng tích cực cho nền kinh tế. Sản lượng sản xuất tăng cao, các hoạt động kinh tế được diễn ra nhộn nhịp. Ở giai đoạn phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp trong thị trường được giảm xuống do nhu cầu về nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp tăng cao. Mức thu nhập và chi tiêu của người lao động lúc này được cải thiện tích cực.
Sự biến động của chu kỳ này không tuân theo một quy luật cụ thể nào và cũng không có hai chu kỳ liên tiếp giống nhau. Ngoài ra, chưa có công thức hay phương pháp nào có thể dự đoán chính xác thời gian xảy ra chu kỳ. Do đó, các biện pháp đối phó cần được xây dựng một cách linh hoạt và căn cứ vào chu kỳ đó.
Do cho kỳ kinh tế khiến các kế hoạch kinh tế của nhà nước bị phá vỡ, chống chu kỳ trở thành nhiệm vụ hàng đầu được đề ra. Tùy thuộc vào cách lý giải nguyên nhân dẫn đến chu kì này mà sẽ có những cách đối phó khác nhau. Có hai nhóm trường phái kinh tế học vĩ mô lớn là chủ nghĩa Keynes và chủ nghĩa kinh tế tự do mới, cùng với đó là hai hướng đối phó với việc này, cụ thể:

Chủ nghĩa kinh tế tự do mới: Trường phái chủ nghĩa kinh tế mới quan điểm rằng chu kỳ kinh tế xảy ra do sự can thiệp của chính phủ hoặc do các cú sốc cung ngoài dự tính. Vì thế, cách đối phó của chủ nghĩa kinh tế mới là điều chỉnh cú sốc cung và hạn chế sự can thiệp của chính phủ.
Các chuyên gia kinh tế đã không ngừng nghiên cứu và xây dựng các biện pháp và công cụ dự báo sự biến động của nền kinh tế. Dù chưa có công thức và phương pháp nào có thể dự báo chính xác được chu kỳ này, song các mô hình và công thức có tính chất dự báo dần được xây dựng. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các mô hình kinh tế lượng phức tạp đã được xây dựng.
Với rất nhiều biến số và hệ phương trình, các mô hình kinh tế lượng được nhận xét có khả năng dự báo chu kỳ kinh tế khá cao. Tiên phong trong sự phát triển của các công cụ dự báo này có thể kể đến những cái tên nổi tiếng như: Jan Tinbergen (Giải Nobel 1969) và Lawrence Klein (Nobel 1980). Qua thời gian, thao tác dự báo chu kỳ này đạt độ chính xác cao hơn dù không đạt mức tuyệt đối.
Chu kỳ kinh tế là một hiện tượng không thể thiếu trong bất kỳ nền kinh tế nào. Các pha và giai đoạn của một chu kỳ được thể hiện rõ ràng với các biểu hiện khác biệt. Nguyên nhân gây ra việc này có liên quan đến mối quan hệ cung và cầu của thị trường. Tùy thuộc vào cách nhận định nguyên nhân dẫn đến chu kỳ theo hai chủ nghĩa kinh tế sẽ có cách biện pháp đối phó khác nhau.
( Nguồn : YUANTA)
Cơ hội để trở thành chuyên viên phân tích dữ liệu dưới môi trường làm việc đội ngũ Cacbon...